QK2 - Những chiến công của LLVT Quân khu 2 đã góp phần quan trọng đánh bại cuộc hành binh liều lĩnh của Pháp lên Việt Bắc, như lời của viên đội Su -ten, một sĩ quan chỉ huy Pháp than thở với đồng đội tại Mác Khan trước lúc tắt thở rằng: “Than ôi! sẽ còn rất nhiều cây thập ác bằng gỗ mọc lên trong nghĩa địa khổng lồ Tuyên Quang”. Đến lúc này thì thực dân Pháp đã phải thú nhận “Nghĩa địa khổng lồ Tuyên Quang”, “Tai hoạ Đoan Hùng”, “Bể lửa Khe Lau” là những nấm mộ chôn sống bọn chúng. Chiến lược “đánh nhanh, thắng nhanh” của thực dân Pháp hoàn toàn bị phá sản. Bị thất bại ở khắp các chiến trường, nhưng với bản chất hung hăng của một tên thực dân khát máu, đến cuối năm 1953, Pháp đã xây dựng cái gọi là “tập đoàn cứ điểm đáng sợ, một pháo đài bất khả xâm phạm” Điện Biên Phủ để làm “bẫy nhử”, “cối nghiền thịt” quân chủ lực Việt Minh, nhằm tìm ra đối sách mới để đưa quân đội Pháp ra khỏi “con đường hầm không lối thoát” tại Việt Nam.

Một lần nữa LLVT Quân khu sát cánh cùng cả nước bước vào cuộc chiến đấu. Sau thời gian chuẩn bị và 55 ngày đêm “cắt núi, ngủ hầm, mưa dầm, cơm vắt, máu trộn bùn non.....” LLVT Quân khu 2 cùng với quân và dân cả nước đã đập tan tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ làm nên chiến thắng: “Lừng lẫy năm châu, chấn động địa cầu”.

Trong chiến dịch này, LLVT Quân khu 2 và nhân dân các dân tộc Tây Bắc đã đóng góp 31.818 dân công với 1.296.078 ngày công lao động, 7.310 tấn gạo, 389 tấn thịt, gần 800 tấn rau xanh. Điều đặc biệt là do không phải vận chuyển xa, dài ngày nên cứ một tấn vật chất đảm bảo tại chỗ của đồng bào Tây Bắc thì tương đương với 12 tấn vật chất nơi khác chuyển đến. Để vận chuyển lương thực, thực phẩm, vũ khí, đạn dược ra chiến trường, quân dân Tây Bắc đã huy động 21.000 xe đạp thồ, cùng hàng chục nghìn phương tiện vận chuyển thô sơ và nửa thô sơ. Các lực lượng dân công tham gia mở đường vượt qua địa hình Tây Bắc hiểm trở, vận chuyển lương thực, kéo pháo vào trận địa với một khối lượng công việc lớn. Chính tại nơi đây đã chứng kiến kỷ lục về vận tải bằng xe thồ của đồng chí Ma Văn Thắng người Phú Thọ, chở được 352 kg.

Chiến thắng Điện Biên Phủ (Ảnh tư liệu)

Đại đoàn 316 đơn vị chủ lực của Quân khu tham gia chiến dịch với tổng số 17 trận tiến công phòng ngự; tiêu diệt 3.300 tên, bắt sống và gọi hàng 6.500 tên; thu và phá huỷ 3.200 súng các loại; bắn rơi 11 máy bay; bắn cháy 3 ô tô; 3 xe tăng cùng nhiều phương tiện chiến tranh khác. Thật vinh dự và tự hào vì lực lượng của Quân khu đã đảm nhiệm trên hướng tiến công chủ yếu. Điện Biên Phủ còn ghi danh những trận đánh ác liệt trên đồi của Trung đoàn 174 Đại đoàn 316. Chính khối bộc phá nghìn cân do Trung đoàn 174 kích nổ như hiệu lệnh cho toàn chiến dịch đồng thời là “tiếng chuông báo giờ chết của chủ nghĩa thực dân Pháp không những ở Việt Nam mà ở cả bộ phận còn lại trong khối thuộc địa của nó”. Sau chiến dịch Điên Biên Phủ, Trung đoàn 174, Trung đoàn 98 vinh dự được nhận cờ của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Điện Biên Phủ cũng nơi ghi dấu sự hi sinh anh dũng của những người con ưu tú trên mảnh đất Tây Bắc anh hùng, như: Tô Vĩnh Diện chèn lưng cứu pháo, Phan Đình Giót lấy thân mình lấp lỗ châu mai, La Văn Cầu chặt cánh tay xông lên đánh giặc, Bế Văn Đàn lấy thân mình thay cho giá súng.

Chiến thắng Điện Biên Phủ đánh dấu sự thắng lợi của cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược và can thiệp Mỹ, trực tiếp đưa đến việc ký hiệp định Giơ - ne - vơ về chấm dứt chiến tranh, lập lại hoà bình ở Đông Dương; là một trong những đỉnh cao chói lọi trong lịch sử hàng nghìn năm dựng nước và giữ nước, như một Bạch Đằng, một Chi Lăng, một Đống Đa của thế kỷ XX, làm nên vóc dáng Việt Nam trong thời đại Hồ Chí Minh.

Thắng lợi của chiến dịch Điện Biên Phủ cũng là mốc son quan trọng khẳng định sự lớn mạnh, trưởng thành vượt bậc của LLVT Quân khu 2, trở thành lực lượng chính quy, tinh nhuệ đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ cách mạng, là cơ sở vững chắc để LLVT Quân khu cùng với cả nước bước vào cuộc kháng chiến chống Mỹ gian khổ, ác liệt.

Thực dân Pháp vừa cuốn gói trở về thì đế quốc Mỹ lại nhảy vào hòng khuất phục dân tộc ta một lần nữa. Máu lửa càng nhiều – lòng căm thù càng lớn. LLVT Quân khu 2 cùng với quân và dân cả nước đã giương cao ngọn cờ “Quyết chiến quyết thắng” mà Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh trao cho. Với trọng trách mới, trước hai nhiệm vụ chiến lược: Vừa xây dựng bảo vệ chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc vừa đấu tranh giải phóng miền Nam thống nhất nước nhà, LLVT Quân khu son sắt một lòng, khắc phục khó khăn, rèn luyện trong lửa đạn củng cố lực lượng, xây dựng hậu phương Miền Bắc, tham gia chiến đấu giải phóng Miền Nam.

Thấu hiểu những cố gắng, hi sinh của quân, dân Tây Bắc trong cuộc kháng chiến, ngày 23-6-1965, Bác Hồ đã gửi thư thăm hỏi, động viên bộ đội, đồng bào và cán bộ Tây Bắc, với tình cảm quan tâm sâu sắc, Bác căn dặn: “Quân đội và đồng bào Tây Bắc hãy phát huy truyền thống vẻ vang Điện Biên Phủ, đoàn kết chặt chẽ giữa các dân tộc anh em, giữa bộ đội và nhân dân, thi đua sản xuất giỏi, chiến đấu giỏi, quyết giành nhiều thắng lợi to lớn hơn nữa”.

Lời căn dặn của Người là động lực to lớn thúc đẩy LLVT Quân khu vươn lên trong chiến đấu. Các đơn vị thuộc LLVT Quân khu đã cùng đồng bào kiên cường bám trụ, sản xuất giỏi, chiến đấu giỏi, động viên con em hăng hái lên đường nhập ngũ. Với tinh thần “Thóc không thiếu một cân, quân không thiếu một người”, “Tất cả vì Miền Nam ruột thịt”, “Tất cả cho tuyến, tất cả để đánh thắng giặc Mỹ xâm lược”. Chỉ tính riêng 3 năm: 1973, 1974, 1975 đã có 484.000 thanh niên miền Bắc vào Nam chiến đấu. Trong đoàn quân “Xẻ dọc Trường Sơn đi cứu nước” ấy có 209.000 người là con em Tây Bắc, rất nhiều người trong số ấy đã vĩnh viễn nằm lại chiến trường.

Bằng ý chí quyết tâm cao, dưới sự lãnh đạo của Đảng, LLVT Quân khu cùng với quân và dân ta lần lượt đánh bại các chiến lược: “Chiến tranh đặc biệt” (1961-1965), “Chiến tranh cục bộ” (1965-1968), “Việt Nam hoá chiến tranh” (1969-1972) của đế Quốc Mỹ; đánh bại chiến tranh phá hoại lần 1, lần 2 và 12 ngày đêm lich sử trên bầu trời Hà Nội, làm nên một “ Điện Biên Phủ trên không”, đè bẹp sức mạnh của không lực Hoa Kỳ, buộc chúng phải ký hiệp định Pari thừa nhận nền độc lập của Việt Nam. Riêng LLVT Quân khu cùng đồng bào các dân tộc Tây Bắc bắn rơi hơn 300 máy bay các loại, tiêu biểu là dân quân xã Tú Nang, xã Chiềng Hặc (Sơn La ), xã Cát Thịnh (Nghĩa Lộ-Yên Bái) được phong tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân vì có thành tích bắn máy bay Mỹ.

Sư đoàn 316, đơn vị chủ lực của Quân khu đã tham gia chiến đấu tại chiến trường miền Nam, giành nhiều thắng lợi vang dội như trận tiến công cao điểm 875 trong chiến dịch Đắk-Tô, tiêu diệt 1.800 tên địch. Tên tuổi Trung đoàn 174 trở thành nỗi khiếp sợ đối với Lữ dù 173 của quân Hoa Kỳ. Còn trong chiến dịch Tây Nguyên, sư đoàn được chọn làm mũi tiến công chủ lực, đánh đòn điểm huyệt vào Buôn Ma Thuật mở toang cánh cửa tiến vào Sài Gòn. Đội quân “ Nam chinh – Bắc phạt – Tây Nguyên trấn” ( Biệt danh của Sư đoàn 23 Nguỵ) bị xoá sổ. Sau chiến dịch Tây Nguyên, sư đoàn 316 nằm trong đội hình Quân đoàn 3, đảm nhiệm hướng Tây Bắc (là hướng tiến công chủ yếu của chiến dịch Hồ Chí Minh). Sư đoàn đã hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ chốt chặt đường số 1, số 22, kiềm chế sư đoàn 25 Ngụy tạo điều kiện cho các đơn vị tiến công vào Sài Gòn, giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước. Với những thành tích trên, ngày 16-1-1976, Sư đoàn 316 được tuyên dương Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân.

Trung Hiếu

Quân khu 2: Tấm lá chắn, phên dậu của Tổ quốc (Kỳ 1)